Dinh dưỡng

DINH DƯỠNG CỦA BÀ MẸ NUÔI CON BÚ

Ngày đăng: 25-02-2015 | Lượt xem: 1083

Khi mang thai và nuôi con bú mẹ, cm nhận được vô số lời khuyên về dinh dưỡng và những lời bình luận về chất lượng sữa mẹ, chẳng biết như thế nào mới là đúng.

A - Sữa mẹ gồm những chất gì, và được chế tạo như thế nào?

Sữa mẹ có hàng ngàn chất, ngoài những thành phần chính [mà sữa ct luôn cố gắng sao chép], đến nay khoa học đã nghiên cứu khoảng 200 chất, còn rất nhiều thành phần khác của sữa mẹ vẫn chưa được nghiên cứu hết. Tuy nhiên, theo đặc tính "đặc điểm giống loài", sữa của loài nào là tối ưu cho loài đó, thì tất cả các thành phần của sữa mẹ đều là tốt nhất cho con.

Sữa mẹ được chế tạo theo "công thức định sẳn", trung bình mỗi lít sữa già (matured milk) chứa khoảng 700 kcal, 890mL nước, 74 g chất bột đường, 42g chất béo, và 13g chất đạm, tuy thành phần chất có thay đổi linh hoạt, nhưng luôn trong một ngưỡng tối ưu nhất định, tính trên 24 giờ, vì sữa mẹ thay đổi trong mỗi cử (sữa trước, sữa sau) và các cử không giống y nhau.

Một số thành phần chính trong sữa mẹ chủ yếu được sản xuất tại chỗ ngay trong "nan sữa" (lactocyte) của tuyến vú từ các phân tử hữu cơ vi sinh trong cơ thể mẹ, không phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng của mẹ trong thời gian cho con bú.

Một số thành phần khác trong sữa mẹ, được truyền trực tiếp từ huyết thanh của mẹ vào thời điểm tạo sữa, có nghĩa là có phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày/ từng bửa ăn của mẹ.

1- Các CHẤT CÓ HÀM LƯỢNG ỔN ĐỊNH, chủ yếu được sản xuất trong nang sữa, KHÔNG PHỤ THUỘC CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA MẸ khi cho con bú:

+ CHẤT ĐẠM (PROTEIN) cung cấp amino-acid cho bé, giúp tăng trưởng cơ và xương, tạo kháng thể, làm dung môi cho hocmon, tạo các men cần thiết.

- WHEY protein chiếm 60%, nhiều gấp 5 lần hàm lượng trong sữa ct. Bên cạnh chức năng dinh dưỡng cho bé, whey protein có chức năng bảo vệ (a-lactalbumin, lysozyne, lactoferrin, immoglobulin...), đào thải chất dư thừa, chất độc, tế bào lạ. Whey protein sữa mẹ ở dạng lõng, tiêu hoá và hấp thụ dễ dàng trong ruột của bé giúp hoàn chỉnh niêm mạc ruột, tạo kháng thể...

- CASIEN protein chiếm 40%, có chức năng chính là đạm dinh dưỡng, kết tủa trong ruột dạng mềm như đậu phụ (tàu hủ) dễ tiêu hoá hấp thụ, do đó phân thải ra mềm, nhẹ không gây táo bón cho bé.

[Trong khi đó, thành phần chính của sữa ct là CASIEN protein bò, Betibuti đã có nhắc đến chất an thần CASOMORPHINE trong casien protein trong sữa ct ở một bài viết khác. Casien bò trong sữa ct hàm lượng lớn kết tủa trong ruột dai và khó tiêu dạng cao su, khiến phân thải cứng dễ gây táo bón.]

+ KHÁNG THỂ (thụ động):

Một số kháng thể (protein) được truyền từ huyết thanh của mẹ theo thể trạng hàng ngày của mẹ vào sữa mẹ cho bé. Ngay khi mẹ tiêp xúc 1 loại vi khuẩn (có nghĩa là bé cũng có khả năng tiếp xúc loại vi khuẩn này khi tiếp xúc với mẹ), kháng thể đối với loại khuẩn đó sẽ được tạo ra và truyền vào sữa mẹ, giúp bé có sẳn khả năng chống khuẩn, để bé được bảo vệ tối ưu.

+ CÁC HỢP CHẤT NPN (NON-PROTEIN NITROGEN): có hơn 200 loại hợp chất NPN trong sữa mẹ: taurine, carnitine, amino-sugar, nucleic acid,... giúp phát triển não, võng mạc, gan. Ngoài ra, NPN còn làm dung môi cho các vi khuẩn có ích, giúp cơ thể điều tiết đối ứng (Betibuti cũng đã có 1 bài viết về cơ chế điều tiết đối ứng) để sử dụng năng lượng và chất dinh dưỡng dự trữ khi cần thiết.

+ CHẤT BỘT ĐƯỜNG (CARBOHYDRATE)

- DISACCHARIDE LACTOSE còn gọi là đường lactose, là thành phần chính trong sữa mẹ, cung cấp 40% năng lượng cần thiết cho sự tăng trưởng của bé.

Lactose là thành phần ổn định nhất trong sữa già, không phụ thuộc và chế độ dinh dưỡng hàng ngày của mẹ. Hàm lượng lactose trong sữa mẹ là cao nhất trong tất cả các loài nuôi con bằng sữa mẹ, phù hợp v đặc điểm của loài người là não bộ tiếp tục phát triển đáng kể trong 2 năm đầu đời.

Lượng sữa non đầu tiên được tạo sẳn trong tuyến vú từ khoản giữa thai kỳ có hàm lượng lactose 23g/L vừa là thức ăn đầu tiên của bé, vừa giúp "hút nước" vào tuyến vú để kích thích quá trình tạo sữa trong các nan sữa ngay sau khi sinh. Lactose cũng giúp gia tăng việc hấp thụ canxi và sắt.

Lactose không phân huỷ trong miệng mà chỉ phân huỷ tại thành ruột non bởi men lactase thành GLUCOSE và GALACTOSE. (Do đó, bé bú mẹ buổi đêm không bị hư răng sữa, như bé bú sữa ct.) Glucose đặc biệt cần thiết cho việc phát triển bộ não và galactose cần thiết cho việc phát triển hệ thần kinh trung ương.

+ CHẤT BÉO (LIPID)

Chất béo trong sữa mẹ cung cấp 50% năng lượng cho bé. Mặc dù số lượng acid-béo và tổng năng lượng không đổi, chất béo thay đổi trong cử bú tỉ lệ nghịch với độ trống của tuyến vú. Có nghĩa đầu cử sữa ít béo, cuối cử sữa nhiều béo. Tuyến vú được bú/ hút cạn thường xuyên hơn, sữa sẽ béo hơn.

Chất béo trong sữa mẹ chủ yếu là TRIGlYCERIDE, và các acid-béo dài và trung (long and medium fatty acid), AA và DHA là những acid béo dài có dồi dào trong sữa mẹ, giúp phát triển võng mạc, bộ não, các mô thần kinh và hệ miễn nhiểm.

[AA và DHA không có trong sữa bò. Loại AA và DHA bổ sung trong một số sữa ct là chất béo động vật/ thực vật qua tác động biến đổi cấu trúc phân tử, nhưng không hoàn toàn giống với AA và DHA trong sữa mẹ.]

Một thành phần béo hữu ích trong sữa mẹ là CHOLESTEROL, 100mg/L - 150mg/L vừa đủ nhu cầu tạo vỏ tế bào và cần thiết cho việc tăng trưởng não của trẻ nhỏ. Do được cung cấp đầy đủ nhu cầu, nên cơ thể bé sử dụng trực tiếp lượng cholesterol này mà không cần tự tạo, hay dự trữ.

[Ngược lại, sữa ct không có cholesterol, để đáp ứng nhu cầu của cơ thể, cơ thể nhưng bé bú sữa ct sẽ kích hoạt khả năng tự tạo và lưu trữ cholesterol, khi trưởng thành cơ thể vẫn tạo và trữ, sinh dư thừa cholosterole ở nhóm này.]

PHOSPHOLIPIDS cũng là một thành phần chất béo trong sữa mẹ có vai trò quan trọng trong việc phát triển võng mạc, hệ thần kinh trung ương và bộ não.

MHO: (human milk oligosaccharides) là một loại axit béo ngắn có tính năng đẩy chất thải và vi khuẩn ra khỏi ruột, giống như tác dụng của chất xơ (trong sữa mẹ không có chất xơ). Do đó, bé bú mẹ hoàn toàn không bị táo bón hay tiêu chảy dù bé đi nhiều lần 1 ngày hay nhiều ngày 1 lần phân vẫn mềm, vàng.

Chất béo còn là dung môi để giúp hấp thụ một số vitamin quan trọng.

+ CAN XI (Calcium)

Trong khi hầu hết các vitamin và khoáng chất có hàm lượng rất nhỏ (vi lượng) trong sữa mẹ và phụ thuộc và chế độ dinh dưỡng hàng ngày của mẹ, Canxi là khoáng chất có hàm lượng lớn (250mg/L - 300mg/L) trong sữa mẹ không phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nồng độ canxi trong máu của mẹ.

Canxi được chú ý nhiều nhất, do thể hiện rõ nhất trong sự phát triển của trẻ nhỏ qua chiều cao và cân nặng. Canxi (Phospho và Magnesium) giúp phát triển xương, chức năng cơ, chức năng tim. Canxi trong sữa mẹ có đặc tính sinh học dễ hấp thụ nhất cho bé. Hầu hết canxi trong sữa mẹ bé có thể hấp thụ được hoàn toàn khiến bé cứng cáp khoẻ mạnh.

[Canxi, sắt kẻm trong sữa ct có hàm lượng cao hơn sữa mẹ, nhưng ở dạng khó hấp thụ, bị thải ra ngoài nhiều qua phân và nước tiểu, khiến hệ tiêu hoá và hệ bài tiết phải làm việc vất vả hơn.]

+ CHẤT SẮT:

Cần để tạo hồng cầu. Tương tự như canxi, chất sắt có hàm lượng rất nhỏ và ổn định trong sữa mẹ, không phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày của mẹ. Chất sắt trong sữa mẹ được lấy từ máu mẹ. Cơ thể bé hấp thụ được 50% - 70% chất sắt trong sữa mẹ, nhưng chỉ hấp thụ được 5% - 10% chất sắt trong sữa ct. Trẻ bú sữa ct, k hấp thụ đủ sắt có nguy cơ thiếu máu.

Một em bé bú mẹ hoang toàn khó có thể thiếu bất kỳ một chất quang trọng nào. Loài người vẫn được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ cho đến khi sữa ct ra đời trong thế kỷ trước.

Bé chỉ cần một lượng chất sắt thấp hơn chuẩn bình thường để hoàn toàn mạnh khoẻ. Bổ sung sắt trực tiếp cho bé bú mẹ là một chỉ định cần phải xem xét lại, vì có thể nguy hiểm nếu chỉ định k chính xác và dùng lâu dài. Bổ sung sắt có thể gây táo bón, và ngộ độc nếu dư thừa. Trong các protein bảo vệ (một thành phần của hệ miễn nhiểm) của sữa mẹ có lactoferrin và transferrin, có chức năng "bắt" các vi khuẩn gây bệnh để đào thải ra ngoài qua phân, hoặc nước tiểu. Khi cơ thể bé thừa sắt, lactoferrin và transferrin thay vì bắt vi khuẩn thì sẽ "bắt" các phân tử sắt thừa để thải ra ngoài, làm giảm khả năng bắt vi khuẩn cần thiết của hệ miễn nhiểm.

+ ĐỒNG, KẼM:

Cần cho các phản ứng hoá học trong cơ thể, kẽm cần cho men, chức năng miễn nhiểm, chữa lành vết thương, tạo protein, phân chia tế bào, tạo DNA. Kẽm trong sữa mẹ ở dạng vi sinh sẳn sàng để hấp thụ. Mẹ không cần bồi dưỡng đặc biệt, sữa mẹ vẫn đảm bảo có các khoáng chất này.

+ NƯỚC:

Nước chiếm 89% thành phần của sữa mẹ, khi mẹ không uống đủ nước (khoảng 12 ly x 250ml / ngày đều đặn trong 24g) lượng sữa sản xuất được sẽ ít đi (k ảnh hưởng đến chất lượng sữa).

2- Các CHẤT CÓ HÀM LƯỢNG PHỤ THUỘC vào CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA MẸ khi cho con bú:

+ VITAMIN A:

Vitamin A cần cho thị giác và duy trì cấu trúc da (biểu bì). Sữa mẹ là nguồn cung cấp vitamin A (retinol) dồi dào được lấy từ nồng độ vitamin A trong máu của mẹ. Khuyến khích mẹ ăn nhiều thực phẩm có màu đỏ giàu vitamin A và uống bổ sung vitamin để tăng lượng vitamin A trong sữa mẹ. Khuyến khích bé bú sữa mẹ để nhận vitamin A trực tiếp từ sữa, không khuyến khích bổ sung vitamin A trực tiếp cho bé.

+ VITAMIN D:

Vitamin D cần cho việc phát triển xương, tạo tế bào, phòng chống một số nguy cơ (cao áp, rối loạn cơ chế tạo kháng thể chủ động...). Sữa mẹ có thể cung cấp lượng vitamin D cần thiết hoàn hảo cho bé. Mẹ cần bổ sung vitamin D trong quý 2 và quý 3 của thai kỳ và phơi nắng 45% da, 15' mỗi ngày, để sữa mẹ cung cấp vitamin D hoàn hảo cho bé. Bé cũng được khuyến khích phơi nắng sáng sáng 45% da, 15' mỗi ngày.

Lượng vitamin D bao nhiêu là chuẩn, chưa được xác định cho toàn cầu. Lượng vitamin D trong cơ thể phụ thuộc vào việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, do đó khác nhau giữa từng vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết theo mùa, phong cách sinh hoạt, màu da, lứa tuổi... Ở các nước ôn đới lạnh (như Canada, Mỹ, Bắc Âu) khả năng tiếp xúc 45% da trong nắng hàng ngày là không khả thi, hoặc khả năng tầng ozon bị mỏng và nguy cơ ung thư da cao (như Úc, New Zealand), thì bà mẹ và bé được chỉ định uống D bổ sung liên tục trong suốt thời gian k tiếp xúc nắng. Do đó, ở xứ nắng ấm quanh năm như Việt Nam (trừ vài tháng mùa Đông lạnh miền Bắc), k khuyến khích trẻ em bổ sung vitamin D giọt, mà khuyến khích bé bú sữa mẹ để nhận được lượng vitamin D cần thiết.

Hiện nay ở VN, một quan niệm sai lệch được lan truyền rộng rãi trong cộng đồng "rụng tóc chiếu liếm, rụng tóc vành khăn", trẻ vừa ngủ vừa vặn mình, thỉnh thoảng gồng người đỏ mặt, là thiếu canxi. Tuy nhiên cả 3 biểu hiện này đều là biểu hiện chung tự nhiên của trẻ khoẻ mạnh. (Khi sợ con mình thiếu canxi, nhiều mẹ tham khảo thông tin Mỹ, Canada, Anh, Đức, thấy bạn bè có con bên đó có Bsi chỉ định uống D... nên tự động bổ sung vitamin D giọt cho bé uống, có khi lâu dài đến 12, 18 tháng.) Uống D như thế dẫn đến thừa vitamin D. Vitamin D là loại vitamin không tự đào thải khỏi cơ thể khi dư thừa, mà sẽ tù đọng trong bàng quang gây mệt mõi, biếng ăn, chóng mặt, về lâu dài gây vôi hoá xương, đóng vôi trong thận, tác hại lâu dài không nhỏ.

+ Vitamin E

Vitamin E giúp bảo vệ lớp màng các tế bào khỏi bị oxy hoá, lão hoá, giãm stress (intra-patrum stress). Sữa mẹ dồi dào vitamin E. Vitamin E cần hấp thụ trong chất béo, do đó được hấp thụ tốt hơn trong sữa sau (hindmilk) nhiều béo. Trong chế độ ăn uống thông thường của mẹ, cũng dễ dàng có đủ vitamin E cho mẹ và con, không cần bổ sung thêm dạng thuốc.

+ Vitamin K

Vitamin K giúp đông máu, nhận từ mẹ qua sữa mẹ. Trẻ sơ sinh được tiêm Vitamin K một lần duy nhất ngay sau khi sinh. Sau đó, nhận từ sữa mẹ và không cần bổ sung nữa. Mẹ được khuyến khích ăn nhiều rau quả có màu xanh.

+ Vitamin C:

Vitamin C giúp chống oxy hoá, giúp hấp thụ chất sắt, chống dị ứng, tăng sức đề kháng. Cơ thể bé không tự tạo vitamin C, mà chỉ nhận được vitamin C từ sữa mẹ, do đó phụ thuộc trực tiếp vào khẩu phần ăn của mẹ. Chỉ C từ thực phẩm mới giúp gia tăng lượng C trong sữa mẹ. Mẹ cần được ăn nhiều rau củ, trái cây màu xanh, màu vàng, màu cam giàu C như bông cải xanh, cải, đu đủ... (ngoại trừ họ cam chanh có nhiều axit có thể làm nóng dạ dày, đặc biệt các bé bị trơ nhiều, hoặc trào ngược thực quản.)

+ Vitamin B (các loại B1, B2, B6, B12...):

Giúp chuyển hoá năng lượng trong tế bào, được nhận từ huyết thanh của mẹ dồi dào. Mẹ được khuyến khích ăn các thực phẩm giàu vitamin B: chuối, khoai tay, cá hồi, gian, ngũ cốc, gạo lứt, các sf sữa...

+ Muối và Clo (Sodium, Cloride): cần để sát trùng và chống viêm cho mẹ và bé. Khi mẹ bị viêm tuyến sữa, nồng độ muối trong sữa mẹ tăng lên giúp chống viêm cho mẹ và bé có thể bú mẹ bình thường.

+ I-ốt: Cần để tạo hocmon tuyến giáp cần cho quá trình phát triển não trong thai kỳ và trọn đời. Ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng của mẹ. Mẹ cần ăn các thức ăn giàu i-ốt như cá biển, hải sản, rong biển và muối i-ốt. Ở những vùng thiếu i-ốt, bà mẹ cần được uống bổ sung i-ốt.

+ Flo: Cần cho quá trình tạo xương, làm chắc lớp vỏ xương vỏ răng. Chỉ cần một lượng rất nhỏ, có đầy đủ trong sữa mẹ. Nhiều nơi có nguồn nước đã bổ sung flo, mẹ không cần dinh dưỡng đặc biệt hay bổ sung flo. [Đối với sữa ct đã có flo, nếu được pha với nguồn nước cũng có flo, bé uống sữa này sẽ bị hiện tượng thừa flo (florosis) sẽ bị vôi hoá sớm.]

Bảo hiểm sức khỏe

'"CHẤT LƯỢNG SỮA MẸ" và "DINH DƯỠNG CỦA BÀ MẸ NUÔI CON BÚ"
- Phần 1

Khi mang thai và nuôi con bú mẹ, cm nhận được vô số lời khuyên về dinh dưỡng và những lời bình luận về chất lượng sữa mẹ, chẳng biết như thế nào mới là đúng.

Hình ảnh minh hoạ: Sữa mẹ là "sữa buffet", sữa ct là "sữa cỏ + hoá chất".

**Bài viết áp dụng cho mẹ mạnh khoẻ, đủ dinh dưỡng và tăng cân tốt trong quá trình mang thai.  Không áp dụng cho mẹ suy dinh dưỡng hoặc có thể trạng suy nhược.**

A - Sữa mẹ gồm những chất gì, và được chế tạo như thế nào?

Sữa mẹ có hàng ngàn chất, ngoài những thành phần chính [mà sữa ct luôn cố gắng sao chép], đến nay khoa học đã nghiên cứu khoảng 200 chất, còn rất nhiều thành phần khác của sữa mẹ vẫn chưa được nghiên cứu hết.  Tuy nhiên, theo đặc tính "đặc điểm giống loài", sữa của loài nào là tối ưu cho loài đó, thì tất cả các thành phần của sữa mẹ đều là tốt nhất cho con.

Sữa mẹ được chế tạo theo "công thức định sẳn", trung bình mỗi lít sữa già (matured milk) chứa khoảng 700 kcal, 890mL nước, 74 g chất bột đường, 42g chất béo, và 13g chất đạm, tuy thành phần chất có thay đổi linh hoạt, nhưng luôn trong một ngưỡng tối ưu nhất định, tính trên 24 giờ, vì sữa mẹ thay đổi trong mỗi cử (sữa trước, sữa sau) và các cử không giống y nhau.

Một số thành phần chính trong sữa mẹ chủ yếu được sản xuất tại chỗ ngay trong "nan sữa" (lactocyte) của tuyến vú từ các phân tử hữu cơ vi sinh trong cơ thể mẹ, không phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng của mẹ trong thời gian cho con bú.  

Một số thành phần khác trong sữa mẹ, được truyền trực tiếp từ huyết thanh của mẹ vào thời điểm tạo sữa, có nghĩa là có phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày/ từng bửa ăn của mẹ.

1- Các CHẤT CÓ HÀM LƯỢNG ỔN ĐỊNH, chủ yếu được sản xuất trong nang sữa, KHÔNG PHỤ THUỘC CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA MẸ khi cho con bú:

+ CHẤT ĐẠM (PROTEIN) cung cấp amino-acid cho bé, giúp tăng trưởng cơ và xương, tạo kháng thể, làm dung môi cho hocmon, tạo các men cần thiết. 

- WHEY protein chiếm 60%, nhiều gấp 5 lần hàm lượng trong sữa ct. Bên cạnh chức năng dinh dưỡng cho bé, whey protein có chức năng bảo vệ (a-lactalbumin, lysozyne, lactoferrin, immoglobulin...), đào thải chất dư thừa, chất độc, tế bào lạ. Whey protein sữa mẹ ở dạng lõng, tiêu hoá và hấp thụ dễ dàng trong ruột của bé giúp hoàn chỉnh niêm mạc ruột, tạo kháng thể...

- CASIEN protein chiếm 40%, có chức năng chính là đạm dinh dưỡng, kết tủa trong ruột dạng mềm như đậu phụ (tàu hủ) dễ tiêu hoá hấp thụ, do đó phân thải ra mềm, nhẹ không gây táo bón cho bé.  

[Trong khi đó, thành phần chính của sữa ct là CASIEN protein bò, Betibuti đã có nhắc đến chất an thần CASOMORPHINE trong casien protein trong sữa ct ở một bài viết khác. Casien bò trong sữa ct hàm lượng lớn kết tủa trong ruột dai và khó tiêu dạng cao su, khiến phân thải cứng dễ gây táo bón.]

+ KHÁNG THỂ (thụ động):  

Một số kháng thể (protein) được truyền từ huyết thanh của mẹ theo thể trạng hàng ngày của mẹ vào sữa mẹ cho bé.  Ngay khi mẹ tiêp xúc 1 loại vi khuẩn (có nghĩa là bé cũng có khả năng tiếp xúc loại vi khuẩn này khi tiếp xúc với mẹ), kháng thể đối với loại khuẩn đó sẽ được tạo ra và truyền vào sữa mẹ, giúp bé có sẳn khả năng chống khuẩn, để bé được bảo vệ tối ưu.

+ CÁC HỢP CHẤT NPN (NON-PROTEIN NITROGEN): có hơn 200 loại hợp chất NPN trong sữa mẹ: taurine, carnitine, amino-sugar, nucleic acid,... giúp phát triển não, võng mạc, gan. Ngoài ra, NPN còn làm dung môi cho các vi khuẩn có ích, giúp cơ thể điều tiết đối ứng (Betibuti cũng đã có 1 bài viết về cơ chế điều tiết đối ứng) để sử dụng năng lượng và chất dinh dưỡng dự trữ khi cần thiết.

+ CHẤT BỘT ĐƯỜNG (CARBOHYDRATE) 

- DISACCHARIDE LACTOSE còn gọi là đường lactose, là thành phần chính trong sữa mẹ, cung cấp 40% năng lượng cần thiết cho sự tăng trưởng của bé. 

Lactose là thành phần ổn định nhất trong sữa già, không phụ thuộc và chế độ dinh dưỡng hàng ngày của mẹ. Hàm lượng lactose trong sữa mẹ là cao nhất trong tất cả các loài nuôi con bằng sữa mẹ, phù hợp v đặc điểm của loài người là não bộ tiếp tục phát triển đáng kể trong 2 năm đầu đời.

Lượng sữa non đầu tiên được tạo sẳn trong tuyến vú từ khoản giữa thai kỳ có hàm lượng lactose 23g/L vừa là thức ăn đầu tiên của bé, vừa giúp "hút nước" vào tuyến vú để kích thích quá trình tạo sữa trong các nan sữa ngay sau khi sinh. Lactose cũng giúp gia tăng việc hấp thụ canxi và sắt.

Lactose không phân huỷ trong miệng mà chỉ phân huỷ tại thành ruột non bởi men lactase thành GLUCOSE và GALACTOSE. (Do đó, bé bú mẹ buổi đêm không bị hư răng sữa, như bé bú sữa ct.) Glucose đặc biệt cần thiết cho việc phát triển bộ não và galactose cần thiết cho việc phát triển hệ thần kinh trung ương.

+ CHẤT BÉO (LIPID)

Chất béo trong sữa mẹ cung cấp 50% năng lượng cho bé. Mặc dù số lượng acid-béo và tổng năng lượng không đổi, chất béo thay đổi trong cử bú tỉ lệ nghịch với độ trống của tuyến vú. Có nghĩa đầu cử sữa ít béo, cuối cử sữa nhiều béo.  Tuyến vú được bú/ hút cạn thường xuyên hơn, sữa sẽ béo hơn. 

Chất béo trong sữa mẹ chủ yếu là TRIGlYCERIDE, và các acid-béo dài và trung (long and medium fatty acid), AA và DHA là những acid béo dài có dồi dào trong sữa mẹ, giúp phát triển võng mạc, bộ não, các mô thần kinh và hệ miễn nhiểm. 

[AA và DHA không có trong sữa bò. Loại AA và DHA bổ sung trong một số sữa ct là chất béo động vật/ thực vật qua tác động biến đổi cấu trúc phân tử, nhưng không hoàn toàn giống với AA và DHA trong sữa mẹ.]

Một thành phần béo hữu ích trong sữa mẹ là CHOLESTEROL, 100mg/L - 150mg/L vừa đủ nhu cầu tạo vỏ tế bào và cần thiết cho việc tăng trưởng não của trẻ nhỏ.  Do được cung cấp đầy đủ nhu cầu, nên cơ thể bé sử dụng trực tiếp lượng cholesterol này mà không cần tự tạo, hay dự trữ.  

[Ngược lại, sữa ct không có cholesterol, để đáp ứng nhu cầu của cơ thể, cơ thể nhưng bé bú sữa ct sẽ kích hoạt khả năng tự tạo và lưu trữ cholesterol, khi trưởng thành cơ thể vẫn tạo và trữ, sinh dư thừa cholosterole ở nhóm này.]

PHOSPHOLIPIDS cũng là một thành phần chất béo trong sữa mẹ có vai trò quan trọng trong việc phát triển võng mạc, hệ thần kinh trung ương và bộ não.

MHO: (human milk oligosaccharides) là một loại axit béo ngắn có tính năng đẩy chất thải và vi khuẩn ra khỏi ruột, giống như tác dụng của chất xơ (trong sữa mẹ không có chất xơ). Do đó, bé bú mẹ hoàn toàn không bị táo bón hay tiêu chảy dù bé đi nhiều lần 1 ngày hay nhiều ngày 1 lần phân vẫn mềm, vàng. 

Chất béo còn là dung môi để giúp hấp thụ một số vitamin quan trọng.

+ CAN XI (Calcium)

Trong khi hầu hết các vitamin và khoáng chất có hàm lượng rất nhỏ (vi lượng) trong sữa mẹ và phụ thuộc và chế độ dinh dưỡng hàng ngày của mẹ, Canxi là khoáng chất có hàm lượng lớn (250mg/L - 300mg/L) trong sữa mẹ không phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nồng độ canxi trong máu của mẹ. 

Canxi được chú ý nhiều nhất, do thể hiện rõ nhất trong sự phát triển của trẻ nhỏ qua chiều cao và cân nặng.  Canxi (Phospho và Magnesium) giúp phát triển xương, chức năng cơ, chức năng tim. Canxi trong sữa mẹ có đặc tính sinh học dễ hấp thụ nhất cho bé.  Hầu hết canxi trong sữa mẹ bé có thể hấp thụ được hoàn toàn khiến bé cứng cáp khoẻ mạnh.

[Canxi, sắt kẻm trong sữa ct có hàm lượng cao hơn sữa mẹ, nhưng ở dạng khó hấp thụ, bị thải ra ngoài nhiều qua phân và nước tiểu, khiến hệ tiêu hoá và hệ bài tiết phải làm việc vất vả hơn.]

+ CHẤT SẮT: 

Cần để tạo hồng cầu. Tương tự như canxi, chất sắt có hàm lượng rất nhỏ và ổn định trong sữa mẹ, không phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng hàng ngày của mẹ.  Chất sắt trong sữa mẹ được  lấy từ máu mẹ.  Cơ thể bé hấp thụ được 50% - 70% chất sắt trong sữa mẹ, nhưng chỉ hấp thụ được 5% - 10% chất sắt trong sữa ct. Trẻ bú sữa ct, k hấp thụ đủ sắt có nguy cơ thiếu máu.

Một em bé bú mẹ hoang toàn khó có thể thiếu bất kỳ một chất quang trọng nào. Loài người vẫn được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ cho đến khi sữa ct ra đời trong thế kỷ trước. 

Bé chỉ cần một lượng chất sắt thấp hơn chuẩn bình thường để hoàn toàn mạnh khoẻ. Bổ sung sắt trực tiếp cho bé bú mẹ là một chỉ định cần phải xem xét lại, vì có thể nguy hiểm nếu chỉ định k chính xác và dùng lâu dài. Bổ sung sắt có thể gây táo bón, và ngộ độc nếu dư thừa. Trong các protein bảo vệ (một thành phần của hệ miễn nhiểm) của sữa mẹ có lactoferrin và transferrin, có chức năng "bắt" các vi khuẩn gây bệnh để đào thải ra ngoài qua phân, hoặc nước tiểu. Khi cơ thể bé thừa sắt, lactoferrin và transferrin thay vì bắt vi khuẩn thì sẽ "bắt" các phân tử sắt thừa để thải ra ngoài, làm giảm khả năng bắt vi khuẩn cần thiết của hệ miễn nhiểm.

+ ĐỒNG, KẼM: 

Cần cho các phản ứng hoá học trong cơ thể, kẽm cần cho men, chức năng miễn nhiểm, chữa lành vết thương, tạo protein, phân chia tế bào, tạo DNA. Kẽm trong sữa mẹ ở dạng vi sinh sẳn sàng để hấp thụ.  Mẹ không cần bồi dưỡng đặc biệt, sữa mẹ vẫn đảm bảo có các khoáng chất này.

+ NƯỚC: 

Nước chiếm 89% thành phần của sữa mẹ, khi mẹ không uống đủ nước (khoảng 12 ly x 250ml / ngày đều đặn trong 24g) lượng sữa sản xuất được sẽ ít đi (k ảnh hưởng đến chất lượng sữa). 

2- Các CHẤT CÓ HÀM LƯỢNG PHỤ THUỘC vào CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG CỦA MẸ khi cho con bú:

+ VITAMIN A:

Vitamin A cần cho thị giác và duy trì cấu trúc da (biểu bì). Sữa mẹ là nguồn cung cấp vitamin A (retinol) dồi dào được lấy từ nồng độ vitamin A trong máu của mẹ.  Khuyến khích mẹ ăn nhiều thực phẩm có màu đỏ giàu vitamin A và uống bổ sung vitamin để tăng lượng vitamin A trong sữa mẹ.  Khuyến khích bé bú sữa mẹ để nhận vitamin A trực tiếp từ sữa, không khuyến khích bổ sung vitamin A trực tiếp cho bé.

+ VITAMIN D:

Vitamin D cần cho việc phát triển xương, tạo tế bào, phòng chống một số nguy cơ (cao áp, rối loạn cơ chế tạo kháng thể chủ động...).  Sữa mẹ có thể cung cấp lượng vitamin D cần thiết hoàn hảo cho bé.  Mẹ cần bổ sung vitamin D trong quý 2 và quý 3 của thai kỳ và phơi nắng 45% da, 15' mỗi ngày, để sữa mẹ cung cấp vitamin D hoàn hảo cho bé.  Bé cũng được khuyến khích phơi nắng sáng sáng 45% da, 15' mỗi ngày.

Lượng vitamin D bao nhiêu là chuẩn, chưa được xác định cho toàn cầu. Lượng vitamin D trong cơ thể phụ thuộc vào việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời, do đó khác nhau giữa từng vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết theo mùa, phong cách sinh hoạt, màu da, lứa tuổi... Ở các nước ôn đới lạnh (như Canada, Mỹ, Bắc Âu) khả năng tiếp xúc 45% da trong nắng hàng ngày là không khả thi, hoặc khả năng tầng ozon bị mỏng và nguy cơ ung thư da cao (như Úc, New Zealand), thì bà mẹ và bé được chỉ định uống D bổ sung liên tục trong suốt thời gian k tiếp xúc nắng.  Do đó, ở xứ nắng ấm quanh năm như Việt Nam (trừ vài tháng mùa Đông lạnh miền Bắc), k khuyến khích trẻ em bổ sung vitamin D giọt, mà khuyến khích bé bú sữa mẹ để nhận được lượng vitamin D cần thiết.  

Hiện nay ở VN, một quan niệm sai lệch được lan truyền rộng rãi trong cộng đồng "rụng tóc chiếu liếm, rụng tóc vành khăn", trẻ vừa ngủ vừa vặn mình, thỉnh thoảng gồng người đỏ mặt, là thiếu canxi.  Tuy nhiên cả 3 biểu hiện này đều là biểu hiện chung tự nhiên của trẻ khoẻ mạnh.  (Khi sợ con mình thiếu canxi, nhiều mẹ tham khảo thông tin Mỹ, Canada, Anh, Đức, thấy bạn bè có con bên đó có Bsi chỉ định uống D... nên tự động bổ sung vitamin D giọt cho bé uống, có khi lâu dài đến 12, 18 tháng.) Uống D như thế dẫn đến thừa vitamin D.  Vitamin D là loại vitamin không tự đào thải khỏi cơ thể khi dư thừa, mà sẽ tù đọng trong bàng quang gây mệt mõi, biếng ăn, chóng mặt, về lâu dài gây  vôi hoá xương, đóng vôi trong thận, tác hại lâu dài không nhỏ.

+ Vitamin E

Vitamin E giúp bảo vệ lớp màng các tế bào khỏi bị oxy hoá, lão hoá, giãm stress (intra-patrum stress). Sữa mẹ dồi dào vitamin E. Vitamin E cần hấp thụ trong chất béo, do đó được hấp thụ tốt hơn trong sữa sau (hindmilk) nhiều béo. Trong chế độ ăn uống thông thường của mẹ, cũng dễ dàng có đủ vitamin E cho mẹ và con, không cần bổ sung thêm dạng thuốc.

+ Vitamin K

Vitamin K giúp đông máu, nhận từ mẹ qua sữa mẹ. Trẻ sơ sinh được tiêm Vitamin K một lần duy nhất ngay sau khi sinh. Sau đó, nhận từ sữa mẹ và không cần bổ sung nữa.  Mẹ được khuyến khích ăn nhiều rau quả có màu xanh.

+ Vitamin C:

Vitamin C giúp chống oxy hoá, giúp hấp thụ chất sắt, chống dị ứng, tăng sức đề kháng. Cơ thể bé không tự tạo vitamin C, mà chỉ nhận được vitamin C từ sữa mẹ, do đó phụ thuộc trực tiếp vào khẩu phần ăn của mẹ.  Chỉ C từ thực phẩm mới giúp gia tăng lượng C trong sữa mẹ. Mẹ cần được ăn nhiều rau củ, trái cây màu xanh, màu vàng, màu cam giàu C như bông cải xanh, cải, đu đủ... (ngoại trừ họ cam chanh có nhiều axit có thể làm nóng dạ dày, đặc biệt các bé bị trơ nhiều, hoặc trào ngược thực quản.)

+ Vitamin B (các loại B1, B2, B6, B12...):

Giúp chuyển hoá năng lượng trong tế bào, được nhận từ huyết thanh của mẹ dồi dào. Mẹ được khuyến khích ăn các thực phẩm giàu vitamin B: chuối, khoai tay, cá hồi, gian, ngũ cốc, gạo lứt, các sf sữa...

+ Muối và Clo (Sodium, Cloride): cần để sát trùng và chống viêm cho mẹ và bé.  Khi mẹ bị viêm tuyến sữa, nồng độ muối trong sữa mẹ tăng lên giúp chống viêm cho mẹ và bé có thể bú mẹ bình thường. 

+ I-ốt: Cần để tạo hocmon tuyến giáp cần cho quá trình phát triển não trong thai kỳ và trọn đời. Ảnh hưởng bởi chế độ dinh dưỡng của mẹ.  Mẹ cần ăn các thức ăn giàu i-ốt như cá biển, hải sản, rong biển và muối i-ốt. Ở những vùng thiếu i-ốt, bà mẹ cần được uống bổ sung i-ốt.

+ Flo:  Cần cho quá trình tạo xương, làm chắc lớp vỏ xương vỏ răng. Chỉ cần một lượng rất nhỏ, có đầy đủ trong sữa mẹ. Nhiều nơi có nguồn nước đã bổ sung flo, mẹ không cần dinh dưỡng đặc biệt hay bổ sung flo. [Đối với sữa ct đã có flo, nếu được pha với nguồn nước cũng có flo, bé uống sữa này sẽ bị hiện tượng thừa flo (florosis) sẽ bị vôi hoá sớm.]

-----Còn tiếp Phần 2----'
 
  Tags

Dinh dưỡng